Ví dụ và phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hay báo cáo thu nhập (income statement)

Báo cáo thu nhập hay báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tổng kết doanh thu và chi phí hoạt động của cty trong một kỳ kế toán, thông thường là một năm hay một quý tài chính.

Một số điểm lưu ý:

EBITDA: Lợi nhuận kiếm được trước lãi vay (Interest), thuế (Tax), khấu hao (D&A)

EBITDA = Doanh thu – chi phí hoạt động chưa kể khấu hao.

EBIT = EBITDA – DA (Thu nhập trước thuế, lãi vay và khấu hao – Khấu hao)

EBT: Thu nhập trước thuế = EBIT – I (Thu nhập trước thuế – Lãi vay)

Lãi ròng = EBT – T (~40%)

EPS được tính bằng lãi ròng dành cho cổ đông thường.

+ EPS = Lãi ròng / Số lượng cổ phiếu đang lưu hành

Ở ví dụ này: Lãi ròng là 117,5 triệu, số lượng cổ phiếu thường (Common Stock) là 50 triệu

=> EPS = 117,5/ 50 = 2.35

+ DPS (Dividens Per Share): Cổ tức kiếm được trên mỗi cổ phiếu.

DPS = Cổ tức trả cho cổ đông thường / Số lượng cổ phiếu thường đang lưu hành

Ở ví dụ này Cổ tức trả cho cổ đông thường là 57,5 triệu, và số lượng cổ phiếu đang lưu hành là 50 triệu

=> DPS = 57,5 / 50 = 1.15

+ BVPS (Book Value Per Share): Giá trị sổ sách trên mỗi cổ phần

BVPS = Tổng giá trị vốn chủ sở hữu / Cổ phiếu thường đang lưu hành

Ở ví dụ này tổng giá trị vốn chủ sở hữu là 940 triệu

=> BVPS = 940/50 = 18.8

+ Dòng tiền trên mỗi cổ phần CFPS = (Lãi ròng + Khấu hao TSHH và VH)/Cổ phiếu đang lưu hành.

CFPS = (117,5 + 100)/50 = 4.35

Một vài nhận xét về báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:

  • Để so sánh tình hình hoạt động các công ty trước tiên ta so sánh thu nhập trước thuế, lãi vay và khấu hao của các cty hay giai đoạn. Ở ví dụ này cty thu nhập tăng từ 2850 đến 3000.
  • So sánh EBIT, thu nhập trước thuế và lãi vay. Nhận thấy EBIT của cty tăng từ 263 đến 283.
  • So sánh lãi ròng, Tuy doanh thu thuần, EBIT tăng nhưng lãi ròng lại giảm từ 121.8 => 117.5 Sở dĩ điều này xảy ra do trong năm cty đã có khoản vay nợ nhiều (tăng từ 60 đến 88 triệu đô) điều này khiến lãi ròng giảm xuống dù thu nhập thuần có tăng lên.
  • Xem kỹ báo cáo về hạng mục khấu hao TSHH và VH (depreciation & amortization).

Khấu hao (Depreciation) là những khoản chi phí phản ánh giá trị tài sản được sử dụng trong quá trình sản xuất, khấu hao không phải là khoản chi bằng tiền.

Khấu hao TSVH là khoản chi phí không phải bằng tiền giống như khấu hao nhưng được sử dụng đối với TSVH

Các TSVH: bằng phát minh, sáng chế, thương hiệu, bản quyền, danh tiếng.

Mặc dù khấu hao tài sản cũng được thể hiện trên báo cáo thu nhập và thể hiện bằng tiền nhưng bản chất chúng không phải là chi phí bằng tiền, tiền đã được chi ra trong quá khứ để mua chúng. Do đó các nhân viên tín dụng thường quan tâm đến chỉ số EBITDA, có nghĩa là chỉ quan tâm đến tiền cty tạo ra.

Lãi ròng hay còn gọi là lợi nhuận kế toán.

Dòng tiền thuần khác với lãi ròng hay lợi nhuận kế toán, nó là dòng tiền thực mà cty tạo ra trong kỳ.

Dòng tiền thuần = Lãi ròng + Khấu hao.

Ở ví dụ này dòng tiền thuần của cty = 117,5 + 100 = 217,5 triệu.

Hiểu rõ hơn khấu hao tài sản của cty ta có ví dụ sau: Cty mua 1 máy móc trị giá 100 triệu vào năm 2005, cỗ máy có vòng đời sử dụng là 5 năm, giá trị thanh lý là 0.

Một điều đặc biệt là cỗ máy mua giá 100 triệu vào năm 2005 và được chi trả bằng tiền mặt vào năm 2005 rồi, nhưng lại không được xem là khoản chi phí vào năm 2005, thay vào đó chỉ được khấu trừ từng phần vào chi phí sản xuất kinh doanh vào 5 năm tiếp theo.

Điều này là hiển nhiên bởi vì, nếu ta xem 100 triệu này là chi phí vào năm 2005 thì lợi nhuận các năm tiếp theo bị tăng lên quá mức (đánh giá cao hơn thực tế). Do đó theo kế toán dồn tích chi phí khấu hao tài sản hàng năm được khấu trừ khỏi doanh thu khi xác định thu nhập cho các năm từ 2006 đến 2010, và khoản khấu hao này cũng không phải chi trả bằng tiền.