10 TIỂU CHUẨN ĐÁNH GIÁ MỘT LÝ THUYẾT KHOA HỌC

Feldman (2004) cho rằng để xây dựng được một lý thuyết khoa học tốt, nhà nghiên cứu cần chú ý 10 điểm cơ bản

10 TIỂU CHUẨN ĐÁNH GIÁ MỘT LÝ THUYẾT KHOA HỌC

Feldman (2004) cho rằng để xây dựng được một lý thuyết khoa học tốt, nhà nghiên cứu cần chú ý 10 điểm cơ bản sau đây:

1.Câu hỏi nghiên cứu (research question) phải thật sự quan trọng và cần thiết

Lấy ví dụ khi chúng ta nghiên cứu biến X (để giải thích cho hiện tượng khoa học Y) vì X chưa được nghiên cứu trươc đây. Chưa được nghiên cứu trước đây có thể là một lý do để thực hiện nghiên cứu. Tuy nhiên, vấn đề này chỉ thực sự quan trọng khi chúng ta biện luận được biến X là biến quan trọng (so với các biến đã nghiên cứu trước đây) để giải thích hiện tượng Y. Một ví dụ khác, nếu mối quan hệ giữa X và Y đã được nghiên cứu trên cơ sở tuyến tính. Nếu nghiên cứu của chúng ta có cơ sở đề nghị là X và Y có quan hệ phi tuyến thì điều này làm tăng sự hiểu biết của chúng ta về mối quan hệ này. Những vấn đề nghiên cứu như vậy có khả năng hấp dẫn người đọc (và khả năng công bố kết quả trên tạp chí sẽ cao).

2.Bài nghiên cứu cần phải cho thấy rằng chúng ta đã nắm vững những nghiên cứu đã có trong lĩnh vực chúng ra đang nghiên cứu

Nghĩa là phần cơ sở lý thuyết (literature review) của bài nghiên cứu phải đầy đủ và phù hợp. Giới hạn của phần này đôi khi khó phần biệt và mỗi người có những quan điểm có thể khác nhau. Tuy nhiên, một cách tổng quát, phần này phải có những lý thuyết cơ sở (key articles) và những nghiên cứu trong những năm gần đây. Lấy ví dụ chúng ta nghiên cứu về quá trình quốc tế hóa của công ty (firm internationalization) thì phần cơ sở lý luận  cần phải có lý thuyết từng bước của Johanson & Vahlne (1977); khi nghiên cứu về nội lực cạnh tranh của doanh nghiệp, chúng ta cần đề cập đến lý thuyết  về nguồn lực RBV của doanh nghiệp (Resource Based View of the firm) của Wernerfelt (1984),…

3.Phạm vi nghiên cứu của một bài nghiên cứu cần phải đầy đủ

Đầy đủ ở đây có nghĩa là cần và đủ để có thể có được một đóng góp về mặt lý thuyết. Lấy ví dụ, một bài nghiên cứu khoa học không thể cùng lúc nghiên cứu 50 biến một cách hời hợt. Ngược lại, nếu nghiên cứu vài ba biến thì có thể bỏ sót một số biến  quan trọng để giải thích một hiện tượng khoa học.

4.Một vấn đề quan trọng trong xây dựng một lý thuyết khoa học là phải định nghĩa các khái niệm nghiên cứu một cách chính xác và rõ ràng.

Nhà nghiên cứu cần dẫn chứng được những khái niệm nghiên cứu mới này tạo nên giá trị vượt trội hơn so với những khái niệm đã có. Cũng cần chú ý là nguyên tắc đơn giản (parsimonious principle) đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá các lý thuyết khoa học. Vì vậy, nếu một lý thuyết khoa học trong đó chỉ cần một số khái niệm đủ để giải thích hiện tượng nghiên cứu sẽ tập trung được sự chú ý của người đọc và ứng dụng nó.

5.Một vấn đề chú ý nữa là bản chất của của các mối liên hệ lý thuyết (propositions) phải rõ ràng và mang tính logic.

Nhà nghiên cứu cần xây dựng cơ sở rõ ràng cho các mối liên hệ trong lý thuyết của mình: mối quan hệ giữa biến độc lập, biến phụ thuộc, biến trung gian và biến điều tiết.

6.Một bài nghiên cứu cần được dẫn hướng bởi lý thuyết nền (foundation theory, theoretical paradigm).

Theo Feldman (2004) thì ba thành phần cơ bản nhất để đánh giá một lý thuyết khoa học là: (1) lý thuyết có điểm gì nổi bật không? (2) có lý thuyết cơ sở làm nền tảng cho các dự báo không? (2) những lý thuyết nền sử dụng để xây dựng nên lý thuyết này có phù hợp không (liên kết đơn giản và ngắn gọn nhưng logic)?

7.Bài nghiên cứu cần phải xác định rõ ràng hướng tập trung và phạm vi của nó

Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu sự khác biệt giữa con người? Giữa các bộ phận trong tổ chức? Giữa các tổ chức? Hay giữa các nền văn hóa khác nhau? Kiểm định một lý thuyết  hay xem xét một hiện tượng cụ thể nào đó? Nếu nó giải thích một quy trình vận hành trong một tình huống mới thì cần phải giải thích tại sao tình huống mới có sự khác biệt có ý nghĩa để có thể hình thành một lý thuyết mới cho tình huống này. Những gì không thuộc tình huống này. Hay nói cách khác là bài nghiên cứu cần cho người đọc biết là nó đang làm gì ở đó và tại sao phải làm như vậy.

8.Văn viết phải rõ ràng và xúc tích

Người đọc (và trước tiên là người phản biện) không đủ kiên nhẫn để theo dõi một nghiên cứu với cách viết không rõ ràng, tối nghĩa, lộn xộn trong kết cấu.

9.Một bài nghiên cứu về xây dựng lý thuyết không chỉ dừng lại ở việc tổng hợp các nghiên cứu đã có.

Bài nghiên cứu phải cần cung cấp những phê bình, đánh giá và đưa ra hướng để kiểm định lý thuyết đưa ra.

10.Cuối cùng và quan trọng hơn cả là bài nghiên cứu cần phải cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa so với các nghiên cứu đã có (với cơ sở lý thuyết đã có) và có ý nghĩa trong thực tiễn (có hướng để kiểm định trong thực tiễn)

(Nguyễn Đình Thọ, 2013)

John T. Roger

CÁC THÀNH PHẦN CỦA LÝ THUYẾT KHOA HỌC

Có nhiều cách định nghĩa một lý thuyết khoa học. Theo Kerlinger (1986,9), một lý thuyết khoa học là “một tập của những khái niệm, định nghĩa, và giả thuyết trình bày có hệ thống thông qua các mối quan hệ giữa các khái niệm, nhằm mục đích giải thích và dự báo các hiện tượng tượng khoa học”.

CÁC THÀNH PHẦN CỦA LÝ THUYẾT KHOA HỌC

Có nhiều cách định nghĩa một lý thuyết khoa học. Theo Kerlinger (1986,9), một lý thuyết khoa học là “một tập của những khái niệm, định nghĩa, và giả thuyết trình bày có hệ thống thông qua các mối quan hệ giữa các khái niệm, nhằm mục đích giải thích và dự báo các hiện tượng tượng khoa học”.

Định nghĩa này bao gồm ba vấn đề chính yếu của một lý thuyết khoa học. Một là, lý thuyết khoa học là tập hợp các giả thuyết lý thuyết. Cũng cần chú ý là có hai thuật ngữ giả thuyết được sử dụng trong nghiên cứu khoa học: giả thuyết lý thuyết (proposition)giả thuyết kiểm định (hypothesis).

Giả thuyết lý thuyết là các giả thuyết biểu diễn mối liên hệ giữa các khái niệm trong một lý thuyết. Trong một nghiên cứu khoa học, khi chúng ta chưa kiểm định các mối liên hệ này bằng thực tiễn thì các mối liên hệ này là các giả thuyết lý thuyết. Một khi chúng ta đưa ra các giả thuyết và sẽ thu thập dữ liệu để kiểm định các giả thuyết này thì các giả thuyết đưa ra là các giả thuyết kiểm định.

Như vậy, giả thuyết lý thuyết biểu diễn mối liên hệ giữa các khái niệm nghiên cứu và giả thuyết kiểm định dùng để biểu diễn các mối liên hệ giữa các biến quan sát. Cần chú ý là để kiểm định một giả thuyết lý thuyết chúng ta có thể dùng một hay nhiều giả thuyết kiểm định. Trong trường hợp chỉ cần một giả thuyết kiểm định để kiểm định một giả thuyết lý thuyết thì khái niệm giả thuyết lý thuyết và giả thuyết kiểm định thực chất là một, một cái mang ý nghĩa lý thuyết và một cái mang ý nghĩa thực hiện.

Các giả thuyết lý thuyết nói lên mối liên hệ (tương quan nhân quả) giữa các khái niệm nghiên cứu và cô lập với những khái niệm không được nêu ra trong lý thuyết đó. Điều này có nghĩa là một lý thuyết có giới hạn của nó, xác định bằng các giả thuyết về giá trị, thời gian, và không gian.

Chú ý tiếp theo là trong nghiên cứu có hai dạng khái niệm: khái niệm lý thuyết (concepts), gọi tắt là khái niệm và khái niệm nghiên cứu (constructs). Khái niệm được dùng để chỉ một sự việc/vật có thể là cụ thể như cái bàn, cái ghế hay trừu tượng như thái độ, động cơ mua hàng.

Khi xây dựng một lý thuyết khoa học, chúng ta phải xác định các khái niệm sẽ tạo thành nên lý thuyết. Khi một khái niệm là một thành phần của lý thuyết có hai vấn đề cần xem xét, đó là (1) chúng ta phải đo lường được nó, và (2) mối liên hệ của nó với các khái niệm khác trong lý thuyết được xây dựng. Một khái niệm có thể và sẽ được đo lường để khám phá hoặc kiểm định mối quan hệ giữa nó với các khái niệm khác thì nó được gọi là khái niệm nghiên cứu. Trong phạm vi kiểm định lý thuyết khoa học, khi đề cập đến khái niệm thì nó là khái niệm nghiên cứu. Chính vì vậy, thuật ngữ khái niệm lý thuyết và khái niệm nghiên cứu đôi khi được dùng như nhau, và được gọi chung là khái niệm.

Thứ hai, các khái niệm phải là khái niệm nghiên cứu, nghĩa là chúng ta có thể đo lường chúng được bằng các biến quan sát và khái niệm nghiên cứu này có mối liên hệ với một hay nhiều khái niệm nghiên cứu khác. Chú ý thêm là thông thường chúng ta không thể đo lường trực tiếp được các khái niệm nghiên cứu mà phải thông qua một hay nhiều biến khác có thể đo lường được. Các biến dùng để đo lường một khái niệm nghiên cứu được gọi biến quan sát hay biến đo lường. Thuật ngữ biến đo lường và biến quan sát được dùng thay thế cho nhau. Trong tiếng Anh có nhiều thuật ngữ được dùng để chỉ biến quan sát như observed, variables, items, manifest variables, indicators. Chính vì vậy, khái niệm nghiên cứu còn được gọi là biến tiềm ẩn (Latent variable).

Thứ ba, một lý thuyết phải nhằm mục đích giải thích và dự báo các hiện tượng khoa học.

(Nguyễn Đình Thọ, 2013)

John T. Roger

MỘT VÍ DỤ VỀ VIỆC XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

Puvadol là một sinh viên Thái Lan vừa trở về tư Anh để hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình. Luận văn của anh liên quan đến ứng dụng các phương pháp của phương Tây trong việc đưa nhân viên vào việc ra quyết định ở các công ty của Thái.

MỘT VÍ DỤ VỀ VIỆC XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

Puvadol là một sinh viên Thái Lan vừa trở về tư Anh để hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình. Luận văn của anh liên quan đến ứng dụng các phương pháp của phương Tây trong việc đưa nhân viên vào việc ra quyết định ở các công ty của Thái.

Đề cương tóm tắt của Puvadol như sau:

*Đề tài

Những ảnh hưởng của văn hóa Thái đối với việc tham gia của nhân viên

*Cơ sở lý thuyết

Việc đưa nhân viên tham gia vào việc ra quyết định trong các tổ chức ngày nay càng trở nên phổ biến ở châu Âu và Bắc Mỹ trong những năm gần đây. Sự đầu tư của các tổ chức Mỹ vào Thái cũng có nghĩa là những phương pháp tương tự đang được chấp nhận. Tuy nhiên, điều này giả định rằng nhân viên người Thái sẽ sẵn sàng thích ứng với kỹ thuật này như nhân viên ở Châu Âu và Mỹ.

Những nghi ngờ về độ giá trị của những giả định này xuất phát từ những nghiên cứu về văn hóa quốc gia Thái (Komin). Nhờ sử dụng mô hình lý thuyết của Rokeach (1979), Komin đã đưa ra đặc trưng cho văn hóa Thái theo một số phương diện. Puvadol đã tách những phương diện liên quan đến việc tham gia của nhân viên. Đây là những gì người Thái muốn:

a.giữ thể diện, tránh bị chỉ trích và thể hiện sự quan tâm đến người khác

b.thể hiện sự biết ơn đối với những người tốt bụng và quan tâm

c.củng cố các mối quan hệ êm đẹp, không xung đột với người khác

d.diễn dịch các “quy định” một cách linh hoạt, ít quan tâm đến các nguyên tắc

e.củng cố các quan hệ xã hội tương tác

f.muốn được xem là thành công qua quan hệ xã hội tốt đẹp hơn là thành công cá nhân

Puvaldo định thể hiện trong mục này rằng sáu giá trị văn hóa trên mâu thuẫn với những giá trị về sự tham gia của nhân viên (ví dụ việc thu hút nhân viên có thể bao hàm việc nhân viên công khai chỉ trích người quản lý , mâu thuẫn trực tiếp với điểm a ở trên)

*Mục tiêu nghiên cứu

1.Khảo sát những giả định đằng sau kỹ thuật quản lý để thu hút sự tham gia của nhân viên

2.Hình thành những đặc điểm của văn hóa quốc gia Thái

3.Nhận định những ý kiến của nhân viên và nhà quản lý Thái, làm việc trong những tổ chức của Mỹ trên đất Thái, đối với những giá trị làm nền tảng cho việc tham gia của nhân viên

4.Rút ra những kết luận về khả năng ứng dụng việc tham gia của nhân viên người Thái.

*Phương pháp

1.Tiến hành xem xét các nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của nhân viên và văn hóa Thái để phát triển các giả thuyết nghiên cứu.

2.Tiến hành nghiên cứu sơ cấp ở ba công ty chế tạo và hóa dầu của Mỹ trên đất Thái để đánh giá những ý kiến của nhân viên Thái và các nhà quản lý của họ về những giá trị làm cơ sở trong việc tham gia của nhân viên. Các tổ chức này cho biết rằng họ đã chấp thuận điều này. Các tổ chức sở hữu bởi người Mỹ là yếu tố cần thiết, vì chính ở những công ty này thì sự tham gia của nhân viên hay diễn ra nhất, và những giá trị của người Thái làm cơ sở cho việc tham gia của nhân viên được bộc lộ nhiều nhất. Các công ty hóa dầu và chế tạo được lựa chọn vì những công việc được tiến hành trong những công ty này có vẻ giống nhau, do đó đảm bảo rằng bất cứ sự khác biệt nào đều là hàm số của văn hóa Thái, chứ không phải là văn hóa nghề nghiệp.

Một bảng câu hỏi sẽ được phát triển với những câu hỏi căn cứ trên các giá trị từ a đến f của người Thái trong mục Cơ sở lý thuyết ở trên. Mỗi giá trị sẽ dẫn đến một giả thuyết (ví dụ, sự tham gia của nhân viên có thể không phù hợp với văn hóa Thái vì nó ngụ ý nhân viên có thể thẳng thắn chỉ trích các nhà quản lý). Những câu hỏi trong bảng câu hỏi sẽ dùng để kiểm định các giả thuyết này. Bảng câu hỏi sẽ được phân phát đến một mẫu (với cỡ mẫu phù hợp với phương pháp) gồm các nhân viên và nhà quản lý ở ba tổ chức này.

Việc phân tích dữ liệu sẽ sử dụng phần mềm SPSS. Các kiểm định thống kê sẽ được tiến hành để chắc chắn rằng các kết quả là một hàm số của các giá trị văn hóa Thái, thay vì những giá trị liên quan đến các tổ chức riêng lẻ.

*Khung thời gian

Tháng 1 – 3/2006: đánh giá các nghiên cứu liên quan
Tháng 4/2006: soạn thảo phần đánh giá các nghiên cứu liên quan.
Tháng 5/2006: xem xét các phương pháp nghiên cứu và chọn chiến lược nghiên cứu
Tháng 6/2006: đồng ý tiếp cận chính thức ba tổ chức này để thu thập dữ liệu sơ cấp
Tháng 7 – 8/2006: biên soạn, thử nghiệm và điều chỉnh bảng câu hỏi
Tháng 9/2006: triển khai bảng câu hỏi
Tháng 10 – 11/2006: thu thập lần cuối bảng câu hỏi và phân tích dữ liệu
Tháng 12/2006 – 2/2007: hoàn thành bản thảo đầu tiên của báo cáo đề tài
Tháng 3 – 5/2007: viết báo cáo đề tài lần cuối

*Các nguồn lực

Puvaldo đã tiếp cận được phần cứng và phần mềm máy tính. Việc tiếp cận ba tổ chức này đã được thương lượng, và đang được xác nhận. Công ty của Puvaldo đã đồng ý trả tất cả các chi phí phát sinh như là chi phí khóa học của Puvaldo.

*Tài liệu tham khảo

Komin, S. (1990) Psychology of the Thai People: Values and Behavioral Pattterns, Thailand, National Institute of Development Administration (in Thai)
Rokeach, M. (1979) Understanding Human Values: Individual and Society, New Yord, The Free Press.

Mark (2005)

John T. Roger

Vấn đề khung thời gian và các nguồn lực khi thực hiện nghiên cứu

Andrew cảm thấy giảm tinh thần sau buổi gặp mặt với Sarah. Anh đồng ý việc về suy nghĩ lại vấn đề và sau đó họ sẽ gặp lại nhau vào tuần sau. Nhưng Andrew cảm thấy rằng Sarah có thể đúng trong việc nghi ngờ khoảng thời gian ba tháng, và anh biết rằng anh chỉ không đủ thời gian để tiến hành nghiên cứu sơ cấp theo cách Sarah đã gợi ý. Có thể anh sẽ phải nghĩ một hướng tiếp cận khác…hay một chủ đề luận văn khác

Vấn đề khung thời gian và các nguồn lực khi thực hiện nghiên cứu

Andrew là một sinh viên bán thời gian, là kỹ sư tư vấn làm việc cho một công ty lớn với những dự án ở châu Âu và châu Á. Công ty đã tiến hành những dự án quan trọng, như xây dựng một bệnh viện ở châu Á, xây dựng một trung tâm hội nghị lớn ở một thành phố Nam Âu. Andrew là giám đốc tác nghiệp và đã từng chịu trách nhiệm việc giới thiệu một mạng nội bộ (intranet) của công ty ba tháng trước thời gian tiến hành đề tài nghiên cứu của anh. Một phần mạng nội bộ này đã được giới thiệu, với ý tưởng tăng cường cảm giác về một cộng đồng hợp tác giữa những nhà tư vấn làm việc trong những dự án, bất kể dự án đó là gì hay bất kể nó nằm ở đâu. Các kỹ sư tư vấn đến từ khắp nơi trên thế giới, vì Anh là ngôn ngữ được sử dụng trong công việc của công ty nên tiếng Anh sẽ là phương tiện truyền đạt mạng nộ bộ này.

Những mục tiêu “cộng đồng hợp tác” cụ thể của mạng nội bộ là giảm cảm giác bị cô lập của các kỹ sư, tạo cho họ môt nguồn thông tin trực tiếp về công ty và những thông tin kỹ thuật từ công ty đến các kỹ sư. Ngoài ra, công ty cũng mong muốn mạng nội bộ này sẽ củng cố cảm giác về tinh thần làm việc nhóm ở cả cấp công ty và cấp dự án.

Andrew biết rằng mạng nội bộ đang được sử dụng thường xuyên, và thông tin phản hồi phi chính thức cho thấy rằng mọi người thích nó và thấy nó thật hữu ích. Tuy nhiên, anh muốn có minh chứng “xác đáng hơn” rằng những nguồn lực đáng kể mà công ty đã dành để giới thiệu và áp dụng mạng nộ bộ này là xác đáng.

Anh đã phác thảo một đề cương và mang theo nó đến buổi gặp gỡ đầu tiên với Sarah, người hướng dẫn đề tài của anh. Trước sự ngạc nhiên của Andrew do Sarah đã hoài nghi về ý tưởng của anh. Cô ấy nghĩ ba tháng là một khung thời gian quá ngắn để đánh giá những ảnh hưởng của mạng nội bộ, so với những kết quả mà đề tài đã dự đoán trong việc giảm sự cô lập và củng cố tinh thân nhóm để tiến hành kiểm định. Cô còn nghĩ rằng, để đạt được những mục tiêu này, Andrew cần thực hiện nghiên cứu định tính nào đó. Công việc này sẽ bao gồm việc nói chuyện với những kỹ sư có quốc tịch khác nhau, ở những vị trí khác nhau trên khắp thế giới . Cô cảm thấy rằng chất lượng của những dữ liệu từ bảng câu hỏi mà Andrew đưa ra sẽ không đáp ứng được những mục tiêu của anh với độ giá trị đầy đủ.

Andrew cảm thấy giảm tinh thần sau buổi gặp mặt với Sarah. Anh đồng ý việc về suy nghĩ lại vấn đề và sau đó họ sẽ gặp lại nhau vào tuần sau. Nhưng Andrew cảm thấy rằng Sarah có thể đúng trong việc nghi ngờ khoảng thời gian ba tháng, và anh biết rằng anh chỉ không đủ thời gian để tiến hành nghiên cứu sơ cấp theo cách Sarah đã gợi ý. Có thể anh sẽ phải nghĩ một hướng tiếp cận khác…hay một chủ đề luận văn khác

(Mark, 2002)

John T. Roger

Kỹ thuật động não (Brainstorming)

Kỹ thuật động não (Brainstorming) đã được biết tới như là một kỹ thuật giải quyết vấn đề trong nhiều khóa học quản lý và kinh doanh, nhưng nó cũng có thể được sử dụng để hình thành và chắt lọc những ý tưởng nghiên cứu. Nó được tiến hành tốt nhất với một nhóm người, mặc dù bạn có thể tự động não.

Kỹ thuật động não

Kỹ thuật động não (Brainstorming) đã được biết tới như là một kỹ thuật giải quyết vấn đề trong nhiều khóa học quản lý và kinh doanh, nhưng nó cũng có thể được sử dụng để hình thành và chắt lọc những ý tưởng nghiên cứu. Nó được tiến hành tốt nhất với một nhóm người, mặc dù bạn có thể tự động não. Để động não, Moody (1998) gợi ý bạn nên:

1.Xác định vấn đề của bạn – có nghĩa rằng những ý tưởng bạn quan tâm – càng chính xác càng tốt. Ở những giai đoạn đầu của việc hình thành một chủ đề thì điều này có thể mập mờ, chẳng hạn “Tôi quan tâm đến lĩnh vực Marketing nhưng tôi không biết điều gì liên quan tới chủ đề nghiên cứu của tôi”

2. Yêu cầu mọi người đưa ra những đề xuất liên quan đến vấn đề

3. Ghi lại tất cả những đề xuất, quan sát những quy luật sau đây”
-Mọi đề xuất sẽ không bị phê bình hay đánh giá trước khi tất cả những ý tưởng đã được xem xét.
-Tất cả những gợi ý, cho dù kỳ lạ đến đâu, cũng nên được ghi lại và xem xét.
-Nên ghi lại càng nhiều đề xuất càng tốt.

4.Đánh giá lại tất cả các đề xuất và khám phá hàm ý của nó

5.Phân tích danh sách những đề xuất, xác định đề xuất nào là ý tưởng nghiên cứu hấp dẫn nhất đối với bạn và tại sao.

John T. Roger

Kỹ thuật Delphi

Một trong những phương pháp đặc biệt hữu ích mà sinh viên hay học viên cao học có thể sử dụng trong việc chắt lọc các ý tưởng nghiên cứu là kỹ thuật Delphi. Kỹ thuật này bao gồm việc sử dụng một nhóm người tham gia hoặc quan tâm ý tưởng nghiên cứu, để hình thành và chọn lựa một ý tưởng nghiên cứu cụ thể hơn (Robson, 2002).

Kỹ thuật Delphi

Một trong những phương pháp đặc biệt hữu ích mà sinh viên hay học viên cao học có thể sử dụng trong việc chắt lọc các ý tưởng nghiên cứu là kỹ thuật Delphi. Kỹ thuật này bao gồm việc sử dụng một nhóm người tham gia hoặc quan tâm ý tưởng nghiên cứu, để hình thành và chọn lựa một ý tưởng nghiên cứu cụ thể hơn (Robson, 2002). Để sử dụng kỹ thuật này, bạn cần:

1. Tóm tắt cho các thành viên của nhóm về ý tưởng nghiên cứu (họ có thể ghi chéo nếu muốn)

2. Sau khi phổ biến xong, khuyến khích các thành viên nhóm làm sáng tỏ và tìm thêm thông tin phù hợp

3. Yêu cầu mỗi thành viên của nhóm, kể cả người khởi nguồn ý tưởng nghiên cứu, hình thành một cách độc lập 3 ý tưởng nghiên cứu cụ thể, dựa trên ý tưởng đã được miêu tả (có thể yêu cầu họ đưa ra biện minh cho những ý tưởng cụ thể của họ)

4.Thu thập những ý tưởng nghiên cứu theo dạng chưa biên tập và chưa có tác giả, sau đó phân phát chúng cho tất cả các thành viên của nhóm

5. Lặp lại chu kỳ của quá trình (bước 2 đến bước 4) để các thành viên bình luận về ý tưởng nghiên cứu, và xem lại những đóng góp của họ liên quan đến những điều người khác đã nói.

6. Tiếp tục lặp lại quy trình cho đến khi tất cả đạt được sự đồng thuận.

Qúa trình này rất hiệu quả bởi vì những người được mời tham gia nhóm là những người thích cố gắng giúp đỡ người khác. Ngoài ra, dùng cách này cũng giúp cho các thành viên nhóm gắn kết với nhau hơn.

John T. Roger

Tính chặt chẽ và tầm quan trọng của nghiên cứu quản lý

Trong tạp chí Bristish Journal of Management, Hodgkinson G.P., Herriot P., và Anderson N., (2001) đưa ra sự phân loại bốn phần của kiến thức quản lý. Sử dụng các phương diện của sự chặt chẽ về mặt lý thuyết và phương pháp luận, cũng như sự phù hợp với thực tiễn, họ xác định có bốn phần

Tính chặt chẽ và tầm quan trọng của nghiên cứu quản lý

Trong tạp chí Bristish Journal of Management, Hodgkinson G.P., Herriot P., và Anderson N., (2001) đưa ra sự phân loại bốn phần của kiến thức quản lý. Sử dụng các phương diện của sự chặt chẽ về mặt lý thuyết và phương pháp luận, cũng như sự phù hợp với thực tiễn, họ xác định  có bốn phần:

Tính chặt chẽ về lý thuyết và phương pháp luận

Tầm quan trọng thực tiễn

Bốn phần

Cao Thấp Khoa học trừu tượng
Thấp Cao Khoa học phổ thông
Thấp Thấp Khoa học tầm thường
Cao Cao Khoa học thực nghiệm

 

Các tác giả trên lập luận rằng khoa học trừu tượng có đặc điểm là tập trung vào việc tăng tính chặt chẽ về phương pháp luận  và cho ra các kết quả quan trọng được tìm thấy trong các tạp chí hàn lâm tham khảo của trường đại học, viện nghiên cứu.

Ngược lại, khoa học phổ thông có đặc điểm tập trung vào tính thích đáng và sự hữu ích, trong khi sao lãng tính chặt chẽ của lý thuyết và phương pháp luận, những nghiên cứu loại này được tìm thấy trong những ví dụ trong một vài cuốn sách dành cho những nhà quản lý thực tế. Vì vậy, tuy các khám phá có thể hữu ích với các nhà quản trị, nhưng nghiên cứu mà họ căn cứ có lẽ khó có giá trị hay đáng tin cậy để có thể tổng quát hóa và phổ biến rộng rãi.

Nghiên cứu tầm thường thì thiếu cả tính chặt chẽ trong phương pháp luận và hạn chế về mặt tầm quan trọng trong thực tế, những loại nghiên cứu này đoặc đăng tải rộng rãi trong các phương tiện thông tin đại chúng như báo điện tử hay mạng xã hội, chúng ta phải rất cẩn trọng với những nghiên cứu này vì chúng có thể gây ngộ nhận cho một số người về kết quả nghiên cứu được đăng tải, và khi những người đó áp dụng thì có thể gây ra những hệ quả nghiêm trọng.

Cuối cùng, khoa học thực nghiệm có cả tính chặt chẽ và tính xác đáng về lý thuyết và phương pháp luận. Những loại nghiên cứu này thường được đăng tải trên những tạp trí chuyên ngành uy tín, được cả thế giới công nhận.

John T. Roger

*******************
Hodgkinson G.P., Herriot P., và Anderson N., (2001), “Re-aligning the stakeholders in mangament research: lessons from industrial, work and organization psychology”, Brisish Journal of Management 12. Special issue, 41-8.

 

 

Đánh giá các khía cạnh của Chất lượng dịch vụ website: thang đo E-SERVPERF

Công nghệ thông tin, đặc biệt là sự phát triển của Internet đã đẩy các doanh nghiệp vào vùng cạnh tranh mới, cạnh tranh trong môi trường điện tử (electronic business environments). Website là một công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp đạt lợi thế cạnh tranh, trong đó chất lượng dịch vụ web (web service quality) là chỉ số quan trọng thể hiện công ty đã làm hài lòng khách hàng của mình như thế nào. Chất lượng dịch vụ web được đo lường thông qua nhận thức của khách hàng điện tử (e-customer) và từ đó dẫn đến sự hài lòng và hành vi mua của họ.

Đánh giá các khía cạnh của Chất lượng dịch vụ website: thang đo E-SERVPERF

Continue reading “Đánh giá các khía cạnh của Chất lượng dịch vụ website: thang đo E-SERVPERF”

Mô hình nghiên cứu về thương hiệu nội bộ

Tài sản thương hiệu (brand equity) là một nhân tố quan trọng của lòng trung thành (loyalty) và hành vi (behaviour) (Vogel và cộng sự, 2008) đó là hai nhân tố quan trọng giúp các doanh nghiệp có thể cạnh tranh và tồn tại trong bối cảnh kinh doanh hiện nay. Tài sản thương hiệu được cấu thành từ nhiều yếu tố, gần đây nhất một yếu tố mới được nghiên cứu là thương hiệu nội bộ (internal branding) cũng ảnh hưởng lên tài sản thương hiệu của công ty.

Mô hình nghiên cứu về thương hiệu nội bộ

Continue reading “Mô hình nghiên cứu về thương hiệu nội bộ”