MBA cần biết: Thuyết dự định hành vi TPB (Theory Plan of Behavior) của Aijen

Thuyết dự định hành vi TPB (Theory Plan of Behavior) của Aijen (1991)

Đây là một lý thuyết tương đối phổ biến trong giới nghiên cứu hàn lâm, đặc biệt là được sử dụng rất nhiều trong việc thực hiện đề tài luận văn thạc sỹ cũng như nghiên cứu sinh ở Việt Nam.

Việc ra đời của thuyết này là do con người ta muốn dự đoán hành vi của một cá nhân nào đó trong tương lai. Và Aijen, người đã phát hiện ra thuyết này, thấy rằng một người nào đó có thái độ tốt đối với cái gì hoặc việc gì thì rất có khả năng anh ta sẽ thực hiện hành vi cụ thể trong tương lai. Ví dụ như anh có thái độ tốt đối với một sản phẩm nào đó, anh sẽ mua sản phẩm đó trong tương lai, hoặc anh có thái độ tốt đối với công ty thì anh sẽ gắn kết hơn với công ty hoặc ngược lại là sẽ nghỉ việc tại nơi mà anh không có thái độ không tốt,…

Thuyết này làm nền tảng cho nhiều khái niệm rất hay được sử dụng trong luận văn kinh tế như: dự định nghỉ việc, dự định mua hàng, sự sẵn lòng mua hàng,…

Vậy dự định của một người bị tác động bởi  các yếu tố nào, theo Aijen thì có ba nhân tố ảnh hưởng lên dự định của một cá nhân đó là: (1)Thái độ về hành vi, (2)Chuẩn chủ quan, (3)Kiểm soát hành vi cảm nhận. Trong đó:

1.Thái độ về hành vi là đánh giá tích cực hay tiêu cực đối với hành vi thực hiện

Ví dụ khi anh có thái độ tốt đối với một sản phẩm nào đó (chất lượng sản phẩm tốt, giá cả phải chăng, mẫu mã đẹp,…) thì rất có khả năng anh sẽ mua sản phẩm đó

2.Chuẩn chủ quan là ảnh hưởng của xã hội, đề cập đến sức ép của xã hội được cảm nhận để thực hiện hay không thực hiện hành vi.

Khi anh thái độ tốt đối với một điều gì đó, nhưng điều đó hiện tại vẫn chưa được sự đồng thuận phổ biến của xã hội thì rất có khả năng anh sẽ không thực hiện hành vi đó. Ví dụ anh có thái độ tốt đối với thuốc lá (hút thuốc ngầu, hút thuốc tỉnh táo,…) nhưng cả xã hội lên án việc hút thuốc vì có hại cho sức khỏe của người hút và những người xung quanh thì anh sẽ không có sự sẵn lòng mua thuốc lá.

3.Kiểm soát hành vi cảm nhận phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi, điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi

Khi anh có thái độ tốt đối với một sản phẩm, cả xã hội đồng tình với hành động mua sản phẩm đó và nếu đủ điều kiện thì hành vi đó sẽ diễn ra ví như anh có thái độ tốt đối với hàng ngoại, nhiều người xung quanh cũng đánh giá tốt về hàng ngoại và thu nhập anh có đủ để mua hàng ngoại thì anh sẵn sàng mua hàng ngoại khi có nhu cầu.

Nhưng nếu có thái độ tốt và xã hội ủng hộ mà anh không đủ điều kiện để thực hiện hành vi đó thì hành vi đó cũng không diễn ra trong thực tế. Anh có thái độ tốt đối với một người con gái, những người xung quanh đều cho rằng hai người xứng đôi vừa lứa nhưng mà cô ấy không yêu anh thì việc anh có thể cầu hôn cô ấy là điều khó diễn ra (nhưng trong thực tế vẫn có trường hợp mặc dù điệu kiện không đủ nhưng người ta vẫn cố thực hiện, kết quả là may rủi, khả năng thất bại cao. Cái này chỉ có Chúa mới tạo ra điều kỳ diệu thôi!!!)

John T. Roger

7 vấn đề lớn của Marketing hiện đại mà bạn nên biết

Tổng kết 7 vấn đề lớn của Marketing hiện đại

Trong tất cả các lĩnh vực, không chỉ riêng có lĩnh vực Marketing, chịu ảnh hưởng của sự thay đổi những yếu tố vĩ mô như kinh tế, chính trị, xã hội, công nghệ và dân số. Vì vậy sẽ luôn có những về tồn đọng cần được giải quyết. Các nhà Marketing hiện đại đã tổng hợp thông tin và đưa ra 7 vấn đề lớn của Marketing mà các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt, thường thường để giải quyết những vấn đề này thì các doanh nghiệp phải trả lời những câu hỏi chìa khóa (key questions), cụ thể sau đây là 7 vấn đề:

1.Xác định một cách hiệu quả những nguồn lực có giá trị cao cho sự tăng trưởng

Như các bạn đã biết những nguồn lực truyền thống thì một là cạn kiệt, hai là lỗi thời không còn phù hợp cho sự phát triển nữa. Thế nhưng cũng xuất hiện một số nguồn lực mới mà đặc trưng là sự xuất hiện của Internet và những phát triển dựa trên nền tảng Internet.
Vấn đề của doanh nghiệp là làm sao chọn những nguồn lực nào phù hợp cho bản thân doanh nghiệp nhất để có thể dựa vào đó mà phân khúc hay định hình được khách hàng của mình là ai và dùng những nguồn lực đó phục vụ tốt nhất cho khách hàng

2.Vai trò của Marketing trong doanh nghiệp và các vị trí lãnh đạo cấp cao (C-suite)

Chúng ta phải nhìn nhận đúng vai trò của Marketing trong doanh nghiệp, không được lẫn lộn vai trò của Marketing với các phòng ban khác. Đặc biệt là vai trò của giám đốc Marketing (CMO) trong ban lãnh đạo cũng cần phải được xem xét một cách khách quan và đúng đắn.

3.Sự truyển đổi theo hướng công nghệ số của các doanh nghiệp hiện đại

Công nghệ số ảnh hưởng đến hoạt động của công ty là điều không cần phải bàn cãi. Nhưng mà mỗi công ty thì lại có phản ứng khác nhau đối với sự phát triển của công nghệ số.
Vấn đề đặt ra là trong các hoạt của doanh nghiệp, từ việc tiếp xúc với khác hàng, quá trình vận hành trong nội bộ,…thì doanh nghiệp cần ứng dụng công nghệ số như thế nào để đạt được lợi thế cạnh tranh.

4.Tạo ra và sử dụng Insight (Nhu cầu tiểm ẩn) để định hình việc thực hiện hoạt động Marketing

Hiểu được đúng nhu cầu tiểm ẩn của khách hàng, để đưa ra các hoạt động Marketing hiện quả nhằm đạt lợi thế cạnh tranh là điều phải được quan tâm đối với mỗi doanh nghiệp.
Nhưng làm sao để tìm được Insinght, bằng phương tiện nào và làm sao biết nó có hiệu quả đối với doanh nghiệp là một vấn đề lớn của các nhà làm Marketing.

5.Đối mặt với kênh vạn năng (Omni-chanel)

Do sự phát triển của internet và công nghệ nên các kênh của Marketing không phải là thụ động và đơn lẻ nữa, mà hiện nay nó có sự giao thoa và liên kết với nhau tạo thành một hệ thống với đầy đủ chức năng từ việc hiểu khách hàng đến việc cung cấp sản phẩm đến tay khách hàng mà người ta gọi nó là kênh vạn năng (omni-chanel)
Vậy vấn đề ở đây là làm sao chúng ta hiểu được sự vận hành của nó, thiết kế và quản lý nó một cách hiệu quả để đem về lợi thế cạnh tranh cho công ty mình.

6.Cạnh tranh trong thị trường toàn cầu

Toàn cầu hóa đang diễn ra và ngày càng khốc liệt, đối thủ của các công ty không còn chỉ giới hạn ở trong nước nữa mà mở rộng ra trên phạm vi toàn cầu. Tương ứng với nó thì hoạt động Marketing cũng phải nghiên cứu, áp dụng sao cho phù hợp với nhiều loại hình đối thủ.
Để làm điều đó thì công ty cũng như những nhà làm Marketing phải tạo cho mình một hệ sinh thái (ecosystem) để liên kết với nhau tạo ra sức mạnh cộng hưởng.

7.Cân bằng việc phát triển từ gốc rễ đến khi hoàn thành của sự đổi mới

Một thứ đều thay đổi vì thế các doanh nghiệp và các nhà Marketing cũng phải đổi mới để phù hợp.
Làm sao để cho mọi người trong công ty cũng đều có tư duy đổi mới đó là vấn đề lớn của những mà quả trị, trong đó có nhà quản trị Marketing.