10 TIỂU CHUẨN ĐÁNH GIÁ MỘT LÝ THUYẾT KHOA HỌC

Feldman (2004) cho rằng để xây dựng được một lý thuyết khoa học tốt, nhà nghiên cứu cần chú ý 10 điểm cơ bản

10 TIỂU CHUẨN ĐÁNH GIÁ MỘT LÝ THUYẾT KHOA HỌC

Feldman (2004) cho rằng để xây dựng được một lý thuyết khoa học tốt, nhà nghiên cứu cần chú ý 10 điểm cơ bản sau đây:

1.Câu hỏi nghiên cứu (research question) phải thật sự quan trọng và cần thiết

Lấy ví dụ khi chúng ta nghiên cứu biến X (để giải thích cho hiện tượng khoa học Y) vì X chưa được nghiên cứu trươc đây. Chưa được nghiên cứu trước đây có thể là một lý do để thực hiện nghiên cứu. Tuy nhiên, vấn đề này chỉ thực sự quan trọng khi chúng ta biện luận được biến X là biến quan trọng (so với các biến đã nghiên cứu trước đây) để giải thích hiện tượng Y. Một ví dụ khác, nếu mối quan hệ giữa X và Y đã được nghiên cứu trên cơ sở tuyến tính. Nếu nghiên cứu của chúng ta có cơ sở đề nghị là X và Y có quan hệ phi tuyến thì điều này làm tăng sự hiểu biết của chúng ta về mối quan hệ này. Những vấn đề nghiên cứu như vậy có khả năng hấp dẫn người đọc (và khả năng công bố kết quả trên tạp chí sẽ cao).

2.Bài nghiên cứu cần phải cho thấy rằng chúng ta đã nắm vững những nghiên cứu đã có trong lĩnh vực chúng ra đang nghiên cứu

Nghĩa là phần cơ sở lý thuyết (literature review) của bài nghiên cứu phải đầy đủ và phù hợp. Giới hạn của phần này đôi khi khó phần biệt và mỗi người có những quan điểm có thể khác nhau. Tuy nhiên, một cách tổng quát, phần này phải có những lý thuyết cơ sở (key articles) và những nghiên cứu trong những năm gần đây. Lấy ví dụ chúng ta nghiên cứu về quá trình quốc tế hóa của công ty (firm internationalization) thì phần cơ sở lý luận  cần phải có lý thuyết từng bước của Johanson & Vahlne (1977); khi nghiên cứu về nội lực cạnh tranh của doanh nghiệp, chúng ta cần đề cập đến lý thuyết  về nguồn lực RBV của doanh nghiệp (Resource Based View of the firm) của Wernerfelt (1984),…

3.Phạm vi nghiên cứu của một bài nghiên cứu cần phải đầy đủ

Đầy đủ ở đây có nghĩa là cần và đủ để có thể có được một đóng góp về mặt lý thuyết. Lấy ví dụ, một bài nghiên cứu khoa học không thể cùng lúc nghiên cứu 50 biến một cách hời hợt. Ngược lại, nếu nghiên cứu vài ba biến thì có thể bỏ sót một số biến  quan trọng để giải thích một hiện tượng khoa học.

4.Một vấn đề quan trọng trong xây dựng một lý thuyết khoa học là phải định nghĩa các khái niệm nghiên cứu một cách chính xác và rõ ràng.

Nhà nghiên cứu cần dẫn chứng được những khái niệm nghiên cứu mới này tạo nên giá trị vượt trội hơn so với những khái niệm đã có. Cũng cần chú ý là nguyên tắc đơn giản (parsimonious principle) đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá các lý thuyết khoa học. Vì vậy, nếu một lý thuyết khoa học trong đó chỉ cần một số khái niệm đủ để giải thích hiện tượng nghiên cứu sẽ tập trung được sự chú ý của người đọc và ứng dụng nó.

5.Một vấn đề chú ý nữa là bản chất của của các mối liên hệ lý thuyết (propositions) phải rõ ràng và mang tính logic.

Nhà nghiên cứu cần xây dựng cơ sở rõ ràng cho các mối liên hệ trong lý thuyết của mình: mối quan hệ giữa biến độc lập, biến phụ thuộc, biến trung gian và biến điều tiết.

6.Một bài nghiên cứu cần được dẫn hướng bởi lý thuyết nền (foundation theory, theoretical paradigm).

Theo Feldman (2004) thì ba thành phần cơ bản nhất để đánh giá một lý thuyết khoa học là: (1) lý thuyết có điểm gì nổi bật không? (2) có lý thuyết cơ sở làm nền tảng cho các dự báo không? (2) những lý thuyết nền sử dụng để xây dựng nên lý thuyết này có phù hợp không (liên kết đơn giản và ngắn gọn nhưng logic)?

7.Bài nghiên cứu cần phải xác định rõ ràng hướng tập trung và phạm vi của nó

Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu sự khác biệt giữa con người? Giữa các bộ phận trong tổ chức? Giữa các tổ chức? Hay giữa các nền văn hóa khác nhau? Kiểm định một lý thuyết  hay xem xét một hiện tượng cụ thể nào đó? Nếu nó giải thích một quy trình vận hành trong một tình huống mới thì cần phải giải thích tại sao tình huống mới có sự khác biệt có ý nghĩa để có thể hình thành một lý thuyết mới cho tình huống này. Những gì không thuộc tình huống này. Hay nói cách khác là bài nghiên cứu cần cho người đọc biết là nó đang làm gì ở đó và tại sao phải làm như vậy.

8.Văn viết phải rõ ràng và xúc tích

Người đọc (và trước tiên là người phản biện) không đủ kiên nhẫn để theo dõi một nghiên cứu với cách viết không rõ ràng, tối nghĩa, lộn xộn trong kết cấu.

9.Một bài nghiên cứu về xây dựng lý thuyết không chỉ dừng lại ở việc tổng hợp các nghiên cứu đã có.

Bài nghiên cứu phải cần cung cấp những phê bình, đánh giá và đưa ra hướng để kiểm định lý thuyết đưa ra.

10.Cuối cùng và quan trọng hơn cả là bài nghiên cứu cần phải cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa so với các nghiên cứu đã có (với cơ sở lý thuyết đã có) và có ý nghĩa trong thực tiễn (có hướng để kiểm định trong thực tiễn)

(Nguyễn Đình Thọ, 2013)

John T. Roger

CÁC THÀNH PHẦN CỦA LÝ THUYẾT KHOA HỌC

Có nhiều cách định nghĩa một lý thuyết khoa học. Theo Kerlinger (1986,9), một lý thuyết khoa học là “một tập của những khái niệm, định nghĩa, và giả thuyết trình bày có hệ thống thông qua các mối quan hệ giữa các khái niệm, nhằm mục đích giải thích và dự báo các hiện tượng tượng khoa học”.

CÁC THÀNH PHẦN CỦA LÝ THUYẾT KHOA HỌC

Có nhiều cách định nghĩa một lý thuyết khoa học. Theo Kerlinger (1986,9), một lý thuyết khoa học là “một tập của những khái niệm, định nghĩa, và giả thuyết trình bày có hệ thống thông qua các mối quan hệ giữa các khái niệm, nhằm mục đích giải thích và dự báo các hiện tượng tượng khoa học”.

Định nghĩa này bao gồm ba vấn đề chính yếu của một lý thuyết khoa học. Một là, lý thuyết khoa học là tập hợp các giả thuyết lý thuyết. Cũng cần chú ý là có hai thuật ngữ giả thuyết được sử dụng trong nghiên cứu khoa học: giả thuyết lý thuyết (proposition)giả thuyết kiểm định (hypothesis).

Giả thuyết lý thuyết là các giả thuyết biểu diễn mối liên hệ giữa các khái niệm trong một lý thuyết. Trong một nghiên cứu khoa học, khi chúng ta chưa kiểm định các mối liên hệ này bằng thực tiễn thì các mối liên hệ này là các giả thuyết lý thuyết. Một khi chúng ta đưa ra các giả thuyết và sẽ thu thập dữ liệu để kiểm định các giả thuyết này thì các giả thuyết đưa ra là các giả thuyết kiểm định.

Như vậy, giả thuyết lý thuyết biểu diễn mối liên hệ giữa các khái niệm nghiên cứu và giả thuyết kiểm định dùng để biểu diễn các mối liên hệ giữa các biến quan sát. Cần chú ý là để kiểm định một giả thuyết lý thuyết chúng ta có thể dùng một hay nhiều giả thuyết kiểm định. Trong trường hợp chỉ cần một giả thuyết kiểm định để kiểm định một giả thuyết lý thuyết thì khái niệm giả thuyết lý thuyết và giả thuyết kiểm định thực chất là một, một cái mang ý nghĩa lý thuyết và một cái mang ý nghĩa thực hiện.

Các giả thuyết lý thuyết nói lên mối liên hệ (tương quan nhân quả) giữa các khái niệm nghiên cứu và cô lập với những khái niệm không được nêu ra trong lý thuyết đó. Điều này có nghĩa là một lý thuyết có giới hạn của nó, xác định bằng các giả thuyết về giá trị, thời gian, và không gian.

Chú ý tiếp theo là trong nghiên cứu có hai dạng khái niệm: khái niệm lý thuyết (concepts), gọi tắt là khái niệm và khái niệm nghiên cứu (constructs). Khái niệm được dùng để chỉ một sự việc/vật có thể là cụ thể như cái bàn, cái ghế hay trừu tượng như thái độ, động cơ mua hàng.

Khi xây dựng một lý thuyết khoa học, chúng ta phải xác định các khái niệm sẽ tạo thành nên lý thuyết. Khi một khái niệm là một thành phần của lý thuyết có hai vấn đề cần xem xét, đó là (1) chúng ta phải đo lường được nó, và (2) mối liên hệ của nó với các khái niệm khác trong lý thuyết được xây dựng. Một khái niệm có thể và sẽ được đo lường để khám phá hoặc kiểm định mối quan hệ giữa nó với các khái niệm khác thì nó được gọi là khái niệm nghiên cứu. Trong phạm vi kiểm định lý thuyết khoa học, khi đề cập đến khái niệm thì nó là khái niệm nghiên cứu. Chính vì vậy, thuật ngữ khái niệm lý thuyết và khái niệm nghiên cứu đôi khi được dùng như nhau, và được gọi chung là khái niệm.

Thứ hai, các khái niệm phải là khái niệm nghiên cứu, nghĩa là chúng ta có thể đo lường chúng được bằng các biến quan sát và khái niệm nghiên cứu này có mối liên hệ với một hay nhiều khái niệm nghiên cứu khác. Chú ý thêm là thông thường chúng ta không thể đo lường trực tiếp được các khái niệm nghiên cứu mà phải thông qua một hay nhiều biến khác có thể đo lường được. Các biến dùng để đo lường một khái niệm nghiên cứu được gọi biến quan sát hay biến đo lường. Thuật ngữ biến đo lường và biến quan sát được dùng thay thế cho nhau. Trong tiếng Anh có nhiều thuật ngữ được dùng để chỉ biến quan sát như observed, variables, items, manifest variables, indicators. Chính vì vậy, khái niệm nghiên cứu còn được gọi là biến tiềm ẩn (Latent variable).

Thứ ba, một lý thuyết phải nhằm mục đích giải thích và dự báo các hiện tượng khoa học.

(Nguyễn Đình Thọ, 2013)

John T. Roger