Du lịch sinh thái & quyên góp trồng rừng ứng dụng Blockchain trong công cuộc chống biến đổi khí hậu

[QC]

Mục lục

Tóm tắt: Cả thế giới đang chú ý đến việc giảm sự nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu. Du lịch sinh thái kết hợp quyên góp trồng rừng từ những nhà nghỉ sinh thái có thể giúp giảm thiểu biến đổi khí hậu. Các nhà nghỉ sinh thái nên tích cực quyên góp trồng rừng tại khu vực của mình, việc trồng rừng sẽ giúp cho hệ sinh thái xung quanh tốt hơn, tạo một điểm nhấn khác biệt cho khách du lịch. Tuy nhiên, để nguồn tài trợ được minh bạch thì các nhà nghỉ sinh thái nên áp dụng công nghệ Blockchain trong khâu quản lý việc nhận tiền tài trợ cũng như báo cáo tình hình phát triển của cây trồng cho nhà tài trợ. Bến Tre là một khu vực có hệ sinh thái tự nhiên đa dạng, đặc biệt là hệ sinh thái rừng ngập mặn, Bến Tre cũng là một trong những địa phương bị ảnh hưởng nặng bởi biết đổi khí hậu nên việc phát triển du lịch sinh thái kết hợp chống biến đổi khí hậu là việc làm cấp thiết.

Keywords: du lịch sinh thái, nhà nghỉ sinh thái, biến đổi khí hậu, trồng rừng, Blockchain, NFT.

English

Abstract: The world is paying attention to reducing global warming and climate change. Ecotourism combined with afforestation donations from ecolodges can help decrease climate change. Ecolodges should actively create donation campaigns to afforestation in their area, the afforestation will make the surrounding ecosystem better, creating a different highlight for tourists. However, in order for the funding to be transparent, ecolodges should apply Blockchain technology in managing the grants as well as reporting the development of the trees to the sponsors. Ben Tre is an area with a diverse natural ecosystem, especially a mangrove ecosystem, Ben Tre is also one of the localities heavily affected by climate change, so the development of ecotourism combined attitude against climate change is an urgent task.

Keywords: ecotourism, ecolodge, climate change, afforestation, Blockchain, NFT

1. Đặt vấn đề

Gần đây, vấn đề nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu đã nổi lên như một vấn đề quan trọng trên thế giới. Rất nhiều báo cáo về tác động của biến đổi khí hậu về khả năng góp phần gây ra tình trạng hạn hán, lũ lụt, sạt lở đất,…dẫn đến khủng hoảng lương thực, suy giảm đa dạng sinh học và đe dọa cuộc sống của loài người trong tương lai.

Việt Nam cũng là một nước bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu và tỉnh Bến Tre cũng là một trong những tỉnh thành đang ở tình trạng đáng báo động về biến đổi khí hậu. Theo ông Trần Ngọc Tam, chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre cho biết trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, dưới tác động của biến đổi khí hậu, tỉnh Bến Tre đã chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các yếu tố thiên tai diễn biến bất thường tác động tiêu cực đến đời sống sinh hoạt của người dân, ảnh hưởng đến phát triển bền vững của tỉnh. Mặt khác, các đợt triều cường thời gian qua có xu hướng tăng ở mức cao, làm ảnh hưởng đến hàng chục km đê bao, bờ bao, đường giao thông nông thôn; gây ngập trên 700ha đất sản xuất, cây giống, ao nuôi thủy sản. Triều cường cao kết hợp nước biển dâng dẫn đến tình trạng sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển gia tăng. Toàn tỉnh Bến Tre có hơn 112 điểm sạt lở bờ sông, bờ biển với tổng chiều dài gần 140km; trong đó sạt lở bờ sông 104 điểm, tổng chiều dài khoảng 120km; xói lở bờ biển 8 điểm, tổng chiều dài khoảng 20km. Mức độ xâm thực bờ sông, bờ biển cũng đang diễn ra mạnh mẽ, gây hư hại nhà ở, mất đất sản xuất của hàng trăm hộ dân (Tài Nguyên & Môi trường, 2023). Để đối phó với biến đối, một số chiến lược giảm thiểu đã được đưa ra, bao gồm áp dụng cơ chế công nghiệp xanh và sạch, chống khai thác gỗ và phá rừng trái phép, tăng cường trồng rừng và cải thiện các hoạt động quản lý rừng (Yamasaki, 2003).

Các nhà khoa học đồng thuận rằng phát triển sử dụng bền vững tài nguyên rừng là điều cần thiết. Một kịch bản tăng trưởng kinh tế mà không cần khai thác cây gỗ và làm xáo trộn rừng được khuyến khích sử dụng. Công nghiệp thân thiện với môi trường và phát triển kinh tế phải thực hiện được cơ chế xanh, sạch và quan trọng là phải tăng cường trồng rừng và bảo tồn môi trường xanh (Fearnside PM, 2001). Đặc biệt, điều quan trọng là tìm kiếm một ngành công nghiệp góp phần giảm thiểu lượng khí thải carbon và tăng khả năng hấp thụ và lưu trữ carbon của hệ thống như một cách tiếp cận không thể thiếu trong việc giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu. Trong số ít các kịch bản và cơ chế hướng tới ngành công nghiệp hấp dẫn có khả năng giảm thiểu và cô lập khí nhà kính thì du lịch là một trong những ngành tiềm năng để đáp ứng các mục tiêu đó.

Vai trò của du lịch trong việc tạo ra thu nhập quốc gia và kinh tế địa phương, cung cấp việc làm và nhiều lợi ích kinh tế đã được thảo luận rộng rãi. Sử dụng du lịch để hỗ trợ bảo tồn động vật hoang dã và đa dạng sinh học đã được thảo luận bởi một số tác giả (Krüger, 2005). Cho đến nay, rất ít cuộc thảo luận tập trung vào vai trò đóng góp của du lịch để giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu. Điều này có nghĩa là ngành du lịch không được công nhận là một chiến lược quan trọng trong cơ chế giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu. Phát triển du lịch để tạo ra thu nhập quốc gia và kinh tế địa phương đồng thời góp phần giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu có thể là một quan điểm mới (Fischer, 2007). Du lịch đang đưa nhiều biện pháp kinh doanh mới vào bên trong hoạt động của nó, đặc biệt là áp dụng công nghệ trong xu hướng du lịch thông minh. Cụ thể là áp dụng du lịch thông minh trong việc quản lý phương tiện đi lại, giải trí, chỗ ở và các lĩnh vực liên quan khác để đáp ứng các nguyên tắc phát triển bền vững. Trong số đó, các sáng kiến nhằm thúc đẩy du lịch đóng góp vào việc giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu đã được phát triển (Chương trình 21 Hội nghị Thế giới của Liên hiệp quốc dành cho ngành Lữ hành & Du lịch) với mục tiêu xây dựng mối quan hệ qua lại giữa du lịch và biến đổi khí hậu (Gunn & Var, 2002). Trong khi nhiều cuộc thảo luận tập trung vào việc giảm thiểu phát thải carbon vào khí quyển từ các hoạt động du lịch, thì rất ít cuộc thảo luận về sự đóng góp của hoạt động du lịch vào việc hấp thụ và lưu trữ carbon.

Theo Nguyễn Thanh Lâm (2021) Bến Tre có 3.900 héc ta rừng ngập mặn, có giá trị bảo vệ môi trường rất lớn. Vùng phi lao, đước, đưng, bần, mắm… ở Bình Đại, Ba Tri (đặc biệt ở Vàm Hồ) và Thạnh Phú là “bức tường xanh” chống xói lở bờ biển, cố định đất bãi bồi, hạn chế xâm nhập mặn, giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước, chắn gió biển và là nơi cư trú của nhiều loài thủy hải sản vào mùa sinh đẻ. Rừng ngập mặn có khả năng lưu trữ lượng carbon nhiều gấp 10 lần so với hệ sinh thái trên cạn. Do đó, cần nghiên cứu bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng vùng cửa sông và ven biển.

Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Tỉnh Bến Tre, ông Bùi Minh Tuấn cho biết rằng để ứng phó với biến đổi khí hậu, thúc đẩy tăng trưởng xanh, thời gian qua, tỉnh đã trồng mới và bảo vệ gần 7ha qua dự án gây bồi, tạo bãi, trồng cây ngập mặn bảo vệ đê biển xã Bảo Thuận và trồng mới trên 18ha bần chua tại xã Bảo Thạnh (Ba Tri); triển khai các dự án trồng và phục hồi rừng ven biển, đã thực hiện trồng được 35ha rừng phòng hộ và đặc dụng. Bên cạnh đó, hưởng ứng sáng kiến trồng 1 tỷ cây xanh của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh xây dựng đề án trồng cây trên địa bàn tỉnh với mục tiêu giai đoạn 2021 – 2025 trồng 10 triệu cây xanh để cùng hơn 4.700ha rừng tập trung và hơn 100.000ha cây lâu năm, dừa và cây ăn trái, góp phần xây dựng Bến Tre xanh, sạch, đẹp. Tỉnh cũng đã ban hành kế hoạch thực hiện đề án bảo vệ và phát triển rừng vùng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030. Tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và nâng cao chất lượng rừng thích ứng với biến đổi khí hậu. Phát triển các mô hình canh tác thích ứng dựa vào hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển và dựa vào cộng đồng. Ngoài ra, tỉnh đã hoàn thành việc xây dựng và ban hành kế hoạch hành động, kế hoạch thực hiện thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu làm căn cứ, cơ sở để triển khai các nhiệm vụ biến đổi khí hậu trên toàn tỉnh trong giai đoạn 2021 – 2030. Đồng thời, phê duyệt đề xuất dự án “Thành lập thí điểm Khu bảo tồn đa dạng sinh học phục vụ phát triển bền vững du lịch sinh thái và Trung tâm tri thức về phát triển du lịch sinh thái tại đồng bằng sông Mê-Kông” nhằm bảo vệ, phục hồi và tận dụng giá trị đa dạng sinh học các vùng đất ngập nước, cửa sông, rừng ven biển (Báo Đồng Khởi, 2022).

Đọc thêm:  BlockTree & Forest Link đã trồng & NFT thành công 1300 Cây Giổi tại Phước Sơn, Quảng Nam

Mục tiêu chung của bài viết này là khám phá những đóng góp tiềm năng của du lịch sinh thái trong việc giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu và làm cơ sở cho Tỉnh Bến Tre có thể tham khảo trong việc phát triển du lịch thông minh, bền vững của mình. Đầu tiên, bài báo cung cấp đánh giá chung để xây dựng mối quan hệ giữa du lịch sinh thái và ý tưởng đằng sau việc thu hồi và cô lập các-bon (Carbon capture and storage-CCS). Điều này được thể hiện qua phân tích các yếu tố tạo nên sự thành công của du lịch sinh thái và đóng góp của nó trong cơ chế CCS. Thứ hai, phân tích đóng góp của nhà ở sinh thái – một thành phần quan trọng của du lịch sinh thái, trong việc giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu. Thứ ba, phát triển các chương trình hành động tại nhà ở sinh thái góp phần vào việc nâng cao diện tích trồng rừng tại các khu du lịch sinh thái nhằm mục đích cô lập Carbon, cụ thể là áp dụng công nghệ Blockchain trong việc quyên góp tiền tài trợ trồng rừng và quản lý các thông tin trồng rừng một cách minh bạch và đáng tin cậy.

2. Cơ sở lý thuyết

2.1. Du lịch sinh thái kết hợp trồng rừng và bảo tồn tự nhiên

Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với môi trường tự nhiên. Cụ thể, du lịch sinh thái là một trong những hình thức kinh doanh bền vững với môi trường và mục tiêu cuối cùng là cải thiện tăng trưởng kinh tế địa phương, đồng thời góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, khuyến khích phúc lợi của người dân địa phương, bảo vệ văn hóa và truyền thống địa phương. Vì lợi ích kinh tế phát sinh từ hoạt động kinh doanh cho nên nhiều học giả và chính phủ lập luận rằng du lịch sinh thái là công cụ hấp dẫn để chống đói nghèo ở các nước đang phát triển vùng nhiệt đới và thúc đẩy phát triển kinh tế ở địa phương này. Krüger (2005) lập luận rằng du lịch sinh thái là một trong những chiến lược cơ bản để hỗ trợ chương trình bảo tồn tự nhiên. Mô hình nghiên cứu và các kịch bản thể hiện vai trò của du lịch sinh thái nhằm đáp ứng mục tiêu đó đã được khám phá và thử nghiệm rộng rãi ở một số quốc gia. Du lịch sinh thái đã cung cấp các công cụ tiềm năng để giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu, một số trường hợp thực tế đã được mô tả và thảo luận.

Du lịch sinh thái được tạo ra bởi hai yếu tố cung và cầu. Các quốc gia phát triển như Mỹ và các nước phương Tây, người ta quan tâm nhiều đến du lịch sinh thái (IFC, 2004). Theo Gunn & Var (2002) cho rằng nguồn cung về du lịch sinh thái gồm tài nguyên thiên nhiên, dịch vụ, chương trình và điểm hấp dẫn ở nước sở tại hoặc các điểm đến du lịch. Trong tình hình gần đây khi nhu cầu của khách du lịch đến thăm các điểm đến dựa vào thiên nhiên tăng lên, việc các địa phương cung cấp nguồn cung liên tục và cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của khách du lịch sinh thái là điều cần thiết. So với các loại hình du lịch khác, hệ thống cung cầu trong du lịch sinh thái có quan hệ chặt chẽ, do khách du lịch sinh thái muốn đi tới các điểm đến với các tiêu chí cụ thể như điểm đến phải phải có hệ sinh thái thiên nhiên, có sức hấp dẫn tự nhiên, phong phú và lợi ích từ việc tham gia các chương trình du lịch sinh thái ở địa phương (Swarbrooke, 2005).

Ở khía cạnh quản lý phía cung, điểm đến du lịch sinh thái ở các nước sở tại, theo những cách thích hợp có thể nâng cao tiềm năng của du lịch sinh thái để giảm bớt CO2. Như đã đề cập ở trên rằng điểm đến du lịch sinh thái có các tiêu chí cụ thể, các nhà quản lý làm cho điểm đến hấp dẫn bằng cách thiết lập các điểm tham quan sinh thái mới, tạo môi trường xanh và áp dụng hoạt động kinh doanh xanh thông qua việc ứng dụng công nghệ thông minh (smart technology) trong quản lý.

Xa hơn nữa là việc cải thiện môi trường của điểm đến thông qua việc trồng lại nhiều loài cây nguy cấp và quý hiếm. Theo các học giả, những công việc trên thường được coi là một nỗ lực nhằm tăng khả năng cạnh tranh của điểm đến để giành được thị trường khách du lịch sinh thái tiềm năng. Nghiên cứu của Li & cộng sự (2006) đã khẳng định rằng có du lịch sinh thái kết hợp trồng rừng có tác động tích cực đến hệ sinh thái địa phương và giảm lượng CO2 đã được báo cáo ở Trung Quốc. Một nghiên cứu tương tự của Hakim & cộng sự (2007) cho thấy thảm thực vật bản địa được bảo tồn và thiết lập lại mảng xanh được thực hiện tốt sẽ tăng cường khách du lịch đến tham quan tại các hòn đảo.

2.2. Nhà nghỉ sinh thái

Để đáp ứng nhu cầu về chỗ ở của khách du lịch sinh thái, chỗ ở cần đáp ứng một số đặc điểm, chẳng hạn như vị trí ở có môi trường yên bình, nằm ở vùng hẻo lánh/hoang dã, có cơ hội quan sát thiên nhiên và động vật hoang dã, có thể trải nghiệm văn hóa bản địa và địa phương, hỗ trợ lợi ích cộng đồng, tạo cơ hội quan sát thực vật và động vật, đồng thời đưa ra các thử thách về thể chất như du lịch sinh thái kết hợp tự tay trồng rừng. Mối quan tâm về chỗ ở thân thiện với môi trường trong ngành du lịch đã dẫn đến sự phát triển của nhà nghỉ sinh thái. Ayala (1996) lập luận rằng du lịch sinh thái và chỗ ở thân thiện với môi trường có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nhà nghỉ sinh thái là cơ sở lưu trú điển hình có một số đặc điểm như giảm thiểu tác động xấu đến môi trường tự nhiên thông qua việc áp dụng thiết kế xây dựng bền vững như các khu rừng tự trồng mang tính thiên nhiên, sử dụng công nghệ xanh, thu hút người dân địa phương tham gia phát triển và thực hiện lồng ghép giáo dục môi trường và văn hóa cho du khách (Osland & Mackoy, 2004).

Thị trường của nhà nghỉ sinh thái gần đây đang phát triển đáng kể trên toàn thế giới. TIES lưu ý rằng nhà nghỉ sinh thái đặc biệt phân bố tại các vùng nhiệt đới ở Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ. Cụ thể là các điểm đến như Huaorani Ecolodge (Equador), Cristalino Jungle Lodge (Brasilia), Kwanari Ecolodge (Dominica), El Remanso Lodge (Costa Rica) và Udzungwa (Tanzania) đón lượng khách đáng kể hàng năm (TIES, 2014). Sự phát triển nhanh chóng của nhà nghỉ sinh thái trên thế giới đã truyền cảm hứng cho người Indonesia phát triển nhà nghỉ sinh thái như một trong những cơ sở du lịch với nhiều mục tiêu. Nhà nghỉ sinh thái có thể tăng phúc lợi cộng đồng địa phương, thúc đẩy giáo dục và hỗ trợ bảo tồn môi trường địa phương. Khu sinh thái Rosa (Situbondo, Baluran East Java), khu sinh thái Bukit Lawang (Sumatra), khu sinh thái đười ươi Rimba (Tanjung Harapan Sumatera), khu sinh thái hồ miệng núi lửa Kelimutu (Đông Flores) và khu sinh thái đười ươi Samboja (Đông Kalimantan) đang được quảng bá nhiều chương trình bảo tồn tự nhiên trong hoạt động du lịch sinh thái của họ. Gần đây, số lượng nhà nghỉ sinh thái lớn nhất nằm ở Indonesia, tiếp theo là Costa Rica, Thái Lan, Peru, Ecuador, Guatemala, Mexico, Srilanka và Tanzania. Dữ liệu của TIES cho thấy rằng việc phát triển nhà nghỉ sinh thái trở thành ngành kinh doanh thú vị ở Indonesia.

Đọc thêm:  Lộ trình phát triển của Cardano - Cardano Roadmap

Các nguyên tắc sinh thái trở thành khía cạnh cơ bản trong quy hoạch, thiết lập và giám sát khu nhà ở sinh thái (Osland & Mackoy, 2004). Nhiều nhà nghỉ sinh thái đã kết hợp tái chế chất hữu cơ và thúc đẩy cung cấp năng lượng thân thiện với môi trường, đây là những hoạt động thú vị đóng góp cho CCS. Việc tái chế các chất hữu cơ ví dụ như quá trình ủ phân để chuyển đổi phân chuồng thành vật liệu ủ để cung cấp cho hệ thống làm vườn phát triển bên trong hệ thống nhà nghỉ. Bón phân hữu cơ có nguồn gốc từ quá trình ủ phân hữu cơ có thể làm tăng lượng carbon lưu giữ trong đất và góp phần đáng kể vào việc giảm phát thải khí nhà kính. Tăng chất hữu cơ trong đất ngoài việc góp phần giảm thiểu khí nhà kính mà còn có thể tăng khả năng sử dụng của đất, tăng khả năng giữ nước và giảm phát thải chất ô nhiễm độc hại như oxit nitơ.

Nhà nghỉ sinh thái cần chú ý đến nỗ lực bảo tồn mức độ đa dạng cao nhất của các môi trường lân cận khu vực kinh doanh của mình (Baud-Bovy & Lawson, 1998). Cụ thể là những nỗ lực liên quan đến việc duy trì cấu trúc và thành phần thảm thực vật bản địa. Ví dụ như các cây cao và khổng lồ có tán, dây leo, dứa dại, dương xỉ và các loại cây khác trở thành đặc trưng của rừng nhiệt đới được duy trì trong môi trường nhà ở sinh thái. Những lợi ích này có thể bao gồm việc tăng khả năng hấp thụ CO2. Khu sinh thái được thiết lập với cấu trúc và thành phần thảm thực vật tương tự như rừng nguyên sinh có khả năng lưu trữ carbon khoảng 230,10 – 264,70 tấn Carbon/ha (ở rừng nguyên sinh vùng thấp) và 193,36 tấn Carbon/ha (ở rừng nguyên sinh vùng cao). Khi nhà nghỉ sinh thái được thiết lập tại các địa phương với môi trường nông lâm kết hợp mà cụ thể là trồng rừng, có thể góp phần lưu trữ carbon khoảng 80,78 đến 192,33 tấn Carbon/ha (Masripatin & cộng sự, 2010). Roshetko & cộng sự (2002) lưu ý rằng các nhà nghỉ sinh thái ở Lampung có khả năng lưu trữ carbon khoảng 30 đến 123 ngàn tấn Carbon/ha. Những điều này dẫn đến chiến lược tiềm năng để tăng khả năng thu hồi và cô lập carbon trong sinh khối thực vật.

Trong bối cảnh thu hút du lịch, hệ thống rừng nhiệt đới có sự kết hợp việc tự trồng thêm rừng ở địa phương là những vấn đề được quan tâm. Có rất nhiều sinh vật sống bên trong hệ sinh thái giúp nó trở thành những điểm thu hút du lịch sinh thái tiềm năng dựa trên thiên nhiên (Pamungka & cộng sự, 2013). Trước sự cạnh tranh gay gắt gần đây giữa các cơ sở lưu trú du lịch, nhiều nhà nghỉ sinh thái đáp ứng sự cạnh tranh phát triển thị trường theo nhiều cách khác nhau. Hầu hết trong số họ lập luận rằng việc mang lại trải nghiệm sống tự nhiên trở thành chìa khóa để duy trì và phát triển công việc kinh doanh của họ. Bằng cách đó, nhiều điểm đến ngày nay tập trung vào nỗ lực bảo vệ môi trường tự nhiên và phục hồi môi trường bị suy thoái tự nhiên thông qua việc tự trồng rừng hoặc quyên góp tiền tài trợ để trồng rừng để có thể cung cấp môi trường xanh cho khu vực du lịch của mình và khả năng cạnh tranh kinh doanh của nhà nghỉ sinh thái.

Các khu vườn hay khu rừng chính là thành phần quan trọng của nhà nghỉ sinh thái. Các khu vườn hay khu rừng được phát triển cuối cùng để cung cấp các điểm đến hấp dẫn để tăng sự hài lòng của khách trong thời gian họ ở trong nhà nghỉ sinh thái. Ở nhiều khu sinh thái, các khu vườn hay khu rừng đã được thiết kế để du khách trải nghiệm môi trường bản địa. Một trong cách đó là cho khách du lịch tự tay trồng những cây rừng để cho họ có cảm nhận chân thực hơn về công việc của người nông dân địa phương cũng như có một cảm giác tích cực khi bản thân đã đóng góp một phần nhỏ vào việc chống biến đổi khí hậu.

2.3. Nâng cao hiệu quả trồng rừng tại khu nhà nghỉ sinh thái thông qua áp dụng công nghệ Blockchain

Chống biến đổi khí hậu là một trong những mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc. Việt Nam là một trong những quốc gia ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Trồng rừng là một trong những cách đơn giản nhất và nhanh nhất trong cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu. Các nhà nghỉ sinh thái thay vì tự bỏ tiền ra để trồng rừng thì có thể đứng ra quyên góp các cá nhân và tổ chức cùng chung tay với mình để có thể trồng rừng nhiều hơn trong công cuộc chống biến đổi khí hậu.

Bởi vì trồng rừng cũng được xem là việc làm vô cùng cấp thiết của tất cả các quốc gia để giảm ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, chính vì thế mà nghị quyết của Chính phủ Việt Nam cũng đặt mục tiêu trồng 1 tỷ cây xanh trong giai đoạn 2021-2025 (Báo Chính Phủ, 2021). Tuy nhiên, rất nhiều cá nhân và tổ chức muốn đóng góp công sức trồng rừng, nhưng họ không có cách nào biết chắc chắn rằng nguồn tiền tài trợ của họ được sử dụng đúng mục đích hay không.

Khi trồng rừng trở thành câu chuyện được xã hội quan tâm, thì xảy ra tình trạng niềm tin của các nhà tài trợ ít nhiều lung lay sau những sự cố không hay từ một số nhóm hoạt động gian lận trong việc trồng rừng như không trồng nhưng vẫn có báo cáo hay báo cáo không đúng khu vực trồng,…và từ đó hàng loạt câu hỏi được nhà tài trợ đặt ra nếu như họ cung cấp nguồn tiền cho các nhà nghỉ sinh thái như: Tiền ủng hộ mua cây xanh có được sử dụng đúng mục đích? Số cây trồng xuống sinh trưởng và phát triển được bao nhiêu? Cây được trồng ở khu vực nào? Để trả lời những thắc mắc này, các nhà nghỉ sinh thái cần có một giải pháp giúp làm minh bạch hóa tất cả những thông tin trên.

Giải pháp đó có thể là một nền tảng kết nối giữa nhà nghỉ sinh thái và nhà tài trợ, sử dụng công nghệ để xác thực việc trồng rừng, giải quyết vấn đề minh bạch bằng công nghệ không thể thay đổi dữ liệu, hay minh bạch trong tiếp nhận tài trợ bằng việc áp dụng công nghệ bảo mật cao, khả năng truy dấu và không thể xóa hay thay đổi dữ liệu.

Một trong những công nghệ có tính chất minh bạch thông tin nhất đó là công nghệ Blockchain. Tuy nhiên, hiện nay không ít ý kiến có góc nhìn khá tiêu cực cũng như chỉ biết Blockchain qua những thương vụ đầu tư tiền mã hóa (cryptocurrency), mặc dù ứng dụng công nghệ Blockchain được thể hiện trong rất nhiều ngành nghề, ví dụ như Blockchain cũng được áp dụng rộng rãi ở các nước phát triển, nơi nhiều công ty ứng dụng công nghệ Blockchain trong thế giới thực như: giám sát chuỗi cung ứng và hậu cần, NFT (Mã thông báo không thể thay đổi – Non Fungible Token) cho các sản phẩm nghệ thuật, thanh toán. Vậy thì việc kết hợp công nghệ Blockchain trong việc xác thực trồng rừng là điều hoàn toàn khả thi và giúp cho mọi người có cái nhìn tích cực hơn về công nghệ này.

Đọc thêm:  Cơ chế hoạt động của Blockchain bitcoin

Càng có nhiều sự tin tưởng, công việc trồng rừng càng được diễn ra nhanh chóng ở quy mô rộng hơn. Khi việc trồng rừng đem lại hiệu quả kinh tế cho du lịch địa phương, tạo công ăn việc làm cho những người dân ở địa phương thì chính họ sẽ là người bảo vệ rừng tốt nhất – đây chính là phát triển bền vững mà tất cả mọi người đang hướng đến.

3. Giải pháp ứng dụng công nghệ Blockchain và NFT trong việc xác thực việc trồng rừng cho nhà nghỉ sinh thái

Giới thiệu công nghệ Blockchain để giải quyết vấn đề cho các nhà nghỉ sinh thái trong việc cung cấp tính minh bạch, khả năng kiểm chứng và khả năng đo lường tác động cho các nhà tài trợ của họ.

Cây được trồng trong một khu vực cụ thể sẽ được mã hóa dưới dạng mã thông báo không thể thay thế (NFT).  Mỗi NFT sẽ mang các thông tin cố định bao gồm: người trồng, địa điểm trồng theo kinh tuyến và vĩ tuyến, loại cây và thời gian trồng. Ngoài ra còn có thông tin khả biến như tình trạng của cây, chiều cao và đường kính thân cây, lượng CO2 ước tính mà cây đã hấp thụ theo vòng đời của nó. Dữ liệu cập nhật đến từ nhà nghỉ sinh thái trực tiếp thu thập, cảm biến tại điểm trồng và dữ liệu từ vệ tinh.

NFT sẽ được tạo ra bằng cách sử dụng Blockchain và được cung cấp cho các nhà tài trợ sau đó họ có thể dễ dàng kiểm tra kết quả, gọi mỗi NFT là một Chứng chỉ Xanh (chứng chỉ này tương lai sẽ được phát triển thành chứng chỉ Carbon)

Hiểu một cách đơn giản, mỗi một đơn vị diện tích cây trồng sẽ được đại diện bởi một NFT. NFT với đặc tính của nó (độc nhất, truy cập mở và khả biến dữ liệu) cho phép nhà tài trợ hoàn toàn an tâm về việc tiền của mình được sử dụng đúng mục đích, cập nhật được tiến trình của việc sử dụng tiền cũng như tình trạng hiện tại của cây trồng qua mỗi đợt kiểm tra và tạo ra NFT mới chứa thông tin của đợt kiểm tra đó.

Song song đó, nhà nghỉ sinh thái được trang bị công cụ để số hóa và tiêu chuẩn hóa công tác quản lý cũng như báo cáo trong việc trồng rừng, giúp năng lực quản lý của họ được nâng lên. Đây cũng chính là một trong những yếu tố cấu thành sự tin tưởng giữa nhà tài trợ và người trồng rừng. Cụ thể:

  • Xây dựng một ứng dụng và website để theo dõi và báo cáo tiến độ bắt đầu trồng cây, sự phát triển của cây, tính toán tác động (ví dụ: Carbon cô lập theo thời gian từ rừng…), tạo NFT và báo cáo cho các nhà tài trợ.
  • Xây dựng cộng đồng, làm việc với các doanh nghiệp, cơ quan chính phủ để tiếp tục gây quỹ để trồng và mã hóa thông tin cây rừng lên Blockchain.

Ngoài ra nhà nghỉ sinh thái còn có thể tổ chức các tour du lịch sinh thái cho chính những người tài trợ trồng rừng, để họ tự trải nghiệm trồng rừng trên chính nguồn tiền của mình. Việc những người tài trợ đến trồng rừng cũng góp phần phát triển du lịch sinh thái tại địa phương.

4. Kết luận

Tóm lại, rõ ràng là du lịch sinh thái có tiềm năng góp phần thu giữ và cô lập các-bon. Các tiềm năng chủ yếu liên quan đến khả năng của nhà nghỉ sinh thái hỗ trợ các chương trình bảo tồn và hiệu quả sử dụng tài nguyên. Trong các hướng dẫn hạn chế về cách hệ sinh thái có thể đóng góp vào việc giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu, bài viết này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý thu hút và phát triển để đáp ứng cơ chế hấp thụ và thu giữ carbon thích hợp. Việc quản lý thu hút và phát triển các chương trình cuối cùng có thể tăng sinh khối thực vật. Trong tình hình gần đây khi hành động thực tế và chiến lược hiệu quả để giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu đang gia tăng và chính sách CCS trở thành cách tiếp cận quan trọng, du lịch sinh thái mang đến những cơ hội để đóng góp những nhu cầu đó. Nó sẽ trở thành giải pháp tiềm năng để giảm phát thải khí nhà kính và tạo ra chiến lược phát triển sạch. Đồng thời các nhà nghỉ sinh thái nên tích cực quyên góp trồng rừng tại khu vực của mình, việc trồng rừng sẽ giúp cho hệ sinh thái xung quanh tốt hơn, tăng cường du lịch cũng như chống biết đổi khí hậu. Tuy nhiên, để nguồn tài trợ được minh bạch thì các nhà nghỉ sinh thái nên áp dụng công nghệ Blockchain trong khâu quản lý việc nhận tiền tài trợ cũng như báo cáo tình hình phát triển của cây trồng cho nhà tài trợ.

SLIDE THAM LUẬN

DU LỊCH SINH THÁI & QUYÊN GÓP TRỒNG RỪNG ỨNG DỤNG BLOCKCHAIN TRONG CÔNG CUỘC CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU_

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ayala H (1996) Resort Ecotourism: A master plan for experience management, Corel Hotel and Restaurant Administration Quarterly. 37(5): 54-61.

Báo Chính Phủ, 2021, https://en.baochinhphu.vn/vn-to-plant-one-billion-trees-in-2021-2025-period-11140813.htm

Báo Đồng Khởi, 2022, https://baodongkhoi.vn/ung-pho-voi-bien-doi-khi-hau-thuc-day-tang-truong-xanh-13042022-a99077.html

Baud-Bovy M & Lawson F (1998) Tourism and recreation: handbook of planning and design. Butterworth-Heinemann Ltd.

Fearnside PM (2001). Saving tropical forests as a global warming countermeasure: an issue that divides the environmental movement. Ecological economics. 39(2): 167-184.

Ferretti AR & De Britez RM (2006) Ecological restoration, carbon sequestration and biodiversity conservation: The experience of the Society for Wildlife Research and Environmental Education (SPVS) in the Atlantic Rain Forest of Southern Brazil. Journal for Nature Conservation. 14(3): 249-259.

Fischer J (2007) Current issues in the interdisciplinary research field of climate change and tourism – a meta-study of articles from 2006 and 2007 – paper presented at the European Tourism and the Environment Conference “Promotion and Protection, Achieving the Balance” 11-12 September 2007. Dublin. Ireland.

Gunn CA and Var T (2002) Tourism Planning: Basic, concept and case. Roudledge. New York.

Krüger O (2005) The role of ecotourism in conservation: panacea or Pandora’s box, Biodiversity & Conservation. 14(3): 579-600.

Hakim L, Hong SK, Kim JE and Nakagoshi N (2007) Nature-based Tourism in Small Island Adjacent to Jakarta City, Indonesia: A case study from Kepulauan Seribu. Journal of Korean Wetland Society. 9(1):31-46.

IFC (2004) Ecolodge; Exploring opportunities for sustainable business. The international Finance Corporation, Washington.

Li W, Zhang Q, Liu C and Xue Q. Tourism impact on natural resources: A positive case from China. Environ Manag. 38: 572-579.

Masripatin N, Ginaga K, Wibowo A, Dharmawan, Subekti D, Apriyanto (2010) Cadangan karbon pada berbagai tipe hutan dan jenis tanaman di Indonesia. Pusat penelitian dan Pengembangan Perubahan Iklim dan Kebijakan. Bogor.

Nguyễn Thanh Lâm (2021), https://thesaigontimes.vn/bien-doi-khi-hau-va-truong-hop-ben-tre/

Osland GE & Mackoy R (2004). Ecolodge performance goals and evaluations. Journal of Ecotourism. 3(2): 109-128.

Pamungkas RN, Indriyani S, Hakim L (2013) The ethnobotany of homegardens along rural corridors as a basis for ecotourism planning: a case study of Rajegwesi village, Banyuwangi, Indonesia. J. Bio. Env.Sci. 3(9): 60-69.

Roshetko JM, Delaney M, Hairiah K & Purnomosidhi P (2002) Carbon stocks in Indonesian homegarden systems: Can smallholder systems be targeted for increased carbon storage?. American Journal of Alternative Agriculture. 17(3): 138-148.

Swarbrooke J (2005) The development and management of visitor attractions, Elsevier Butterworth Heinemann, Amsterdam.

Tài Nguyên & Môi trường, 2023, https://baotainguyenmoitruong.vn/thich-ung-voi-bien-doi-khi-hau-o-ben-tre-huong-den-muc-tieu-giam-ngheo-ben-vung-350680.html

TIES (2014) Ecolodge. https://www.Ecotourism.org/ecolodges.

Yamasaki A (2003) An overview of CO2 mitigation options for global warming emphasizing CO2 sequestration options. Journal of Chemical Engineering of Japan. 36 (4): 361-375.

[1] Tiến sĩ, Phó Trưởng Khoa QTKD, ĐH Nguyễn Tất Thành

[2] Thạc sĩ, Giảng viên Khoa QTKD, ĐH Nguyễn Tất Thành

VNEconomics là một dự án với mục đích chia sẻ những tri thức hữu ích về Kinh tế số – Nghiên cứu khoa học và Công nghệ, đặc biệt là những kiến thức về công nghệ Blockchain & ứng dụng của Blockchain tới đối tượng là nhà nghiên cứu và những cá nhân khác quan tâm tới những lĩnh vực này.

👉Tham gia cộng đồng của VNEconomics tại:
📍Website: https://vneconomics.com/
📍Twitter: https://twitter.com/vneconomics_com
📍Telegram: https://t.me/VNEconomic
📍Linked In: https://www.linkedin.com/company/vneconomics/
📍 Fanpage Facebook: https://www.facebook.com/vneconomics/
📍 Facebook Group: https://www.facebook.com/groups/blockchaindeco/

Giấy phép Creative Commons

Website VNEconomics được chia sẻ với các điều khoản của giấy phép Creative Commons Ghi công 4.0 Quốc tế .

Đăng ký nhận bài viết và khóa học miễn phí​

Danh mục sản phẩm

Products